Trang chủ » Blog » Doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp được Nhà nước bảo đảm như thế nào?

Doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp được Nhà nước bảo đảm như thế nào?

30/01/2024 - 90

Thblaw.com.vn

-

Theo quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Đồng thời, theo quy định tại Bộ luật dân […]

Theo quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Đồng thời, theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 thì Chủ sở hữu là chủ thể có các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản, một khối tài sản được pháp luật thừa nhận. Như vậy, chủ sở hữu doanh nghiệp cũng được hiểu là chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với doanh nghiệp đó, tài sản trong doanh nghiệp đó.

Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau: 

Khoản 1 Điều này chỉ rõ; “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.” 

Nhà nước công nhận có 05 loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp này khi thành lập cần đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Sau đó, doanh nghiệp được Nhà nước bảo vệ, công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của mình. 

Quyền bình đẳng trước pháp luật được hiểu là các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế, trong cùng điều kiện, hoàn cảnh như nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau. Là một quyền chủ thể của doanh nghiệp, quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp đòi hỏi bình đẳng trong suốt thời gian tồn tại của nó, từ khi thành lập, đi vào hoạt động kinh doanh và khi giải thể, phá sản doanh nghiệp.

Mục đích của doanh nghiệp là kinh doanh. Kinh doanh là hoạt động được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi. Sinh lợi được hiểu là hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận và những lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội khác theo hướng tích cực. Trên cơ sở điều kiện vật chất – kỹ thuật sẵn có của mình, các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp thích hợp để thu được mức lợi nhuận tối đa. Tuy nhiên, mọi hoạt động sinh lợi của doanh nghiệp phải đảm bảo hợp pháp. Nếu kinh doanh trái pháp luật, thu lợi bất chính, chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nặng nề.

Khoản 2 điều này quy định: “Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.” Điều 32 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” và “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.

Cuối cùng theo Khoản 3 Điều này: “Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản. Việc thanh toán, bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.” 

Quốc hữu hóa là quá trình chuyển từ hình thức sở hữu tư nhân về tài sản, doanh nghiệp sang hình thức sở hữu nhà nước hay sở hữu công cộng. Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

Nhà nước chỉ được trưng mua, trưng dụng tài sản của doanh nghiệp trong các trường hợp được quy định tại Điều 5 Luật trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008. 

Việc thanh toán, bồi thường cho doanh nghiệp khi trưng mua, trưng thu cũng được thực hiện theo quy định từ Điều 34 đến Điều 40 của Luật trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008. Việc thanh toán, bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.

Để được tư vấn chi tiết về bảo đảm của Nhà nước về doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp, Quý khách vui lòng liên hệ:

—————————————————

CÔNG TY  LUẬT TNHH THB LAW

Văn phòng đại diện: Tầng 3, số 10 ngõ 102 Trần Phú, Hà Đông, Hà Nội

Điện thoại: 0836383322

Email: huyenvu@thblaw.com.vn

 

Bài viết liên quan
Đặt tên chi nhánh doanh nghiệp như thế nào cho đúng?

Đặt tên chi nhánh doanh nghiệp như thế nào cho đúng?

Đăng vào ngày: 16/04/2024

Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Việc đặt tên cho chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh là việc làm cần thiết của doanh […]

Xem thêm
Đăng ký bảo hộ tên doanh nghiệp có thực sự quan trọng ?

Đăng ký bảo hộ tên doanh nghiệp có thực sự quan trọng ?

Đăng vào ngày: 10/04/2024

Đăng ký bảo hộ tên doanh nghiệp là thủ tục thật sự cần thiết trong thời buổi kinh tế thị trường hội nhập với nền kinh tế thế giới hiện nay hay không? Thủ tục này mang ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với doanh nghiệp? Tên doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp […]

Xem thêm
6 điều cần biết về uỷ quyền doanh nghiệp

6 điều cần biết về uỷ quyền doanh nghiệp

Đăng vào ngày: 02/04/2024

Ủy quyền là hoạt động phổ biến trong công tác quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng thực hiện ủy quyền theo đúng quy định của pháp luật. Nếu không chú trọng tính pháp lý của việc ủy quyền thì việc ủy quyền đôi khi sẽ trở nên “vô […]

Xem thêm
Quy định về cách đặt tên doanh nghiệp

Quy định về cách đặt tên doanh nghiệp

Đăng vào ngày: 19/03/2024

Theo Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về đặt tên doanh nghiệp như sau:  – Tên tiếng Việt của doanh nghiệp bao gồm hai thành tố theo thứ tự sau đây: + Loại hình doanh nghiệp; + Tên riêng. – Loại hình doanh nghiệp được viết là “công ty trách nhiệm hữu […]

Xem thêm